R&D | NPD

Quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm P1

Bài viết này được trích từ bộ sách “Thiết kế và phát triển sản phẩm” nhằm chia sẻ kiến thức về Thiết kế, Nghiên cứu & Phát triển tới cộng đồng. Nội dung các bài viết chỉ dừng ở mức cơ bản, các bài chuyên sâu hơn xin xem ở link https://meslab.vn/rdi

Đối với các khách hàng đã mua sách cũ, MES LAB có chương trình hoàn tiền mua sách khi đặt mua tài liệu mới. Chi tiết xin xem tại https://meslab.vn/rdi-toolkit

Ở chương này, chúng ta sẽ cùng xem xét quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm bao gồm những hoạt động gì và các hoạt động đó diễn ra như thế nào, có liên hệ với nhau ra sao trong cùng một bức tranh tổng thể.

Hiểu về thuật ngữ “Quá trình”

“Quá trình” (tiếng Anh: process) là một chuỗi những hoạt động diễn ra theo thời gian nhằm mục đích biến các yếu tố “đầu vào” thành “đầu ra”. Hình 2.1 mô tả khái quát về “quá trình”.

Đặc điểm nổi bật của quá trình là nó mang tính “tất định”, có nghĩa là với một tập hợp các yếu tố đầu vào cho trước, nếu áp dụng quá trình thì chúng ta chắc chắn sẽ thu được đầu ra như dự kiến. Đây là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt quá trình với “nghệ thuật” hay “kinh nghiệm”. Với “nghệ thuật” và “kinh nghiệm”, có người làm được, có người không và đầu ra thường không cố định cũng như không dự đoán được. Sự “tất định” của
quá trình chính là yếu tố mà chúng ta cần để áp dụng cho việc thiết kế và phát triển sản phẩm. Nó giúp công tác thiết kế đạt được 2 lợi ích: 1) Khả năng thu được sản phẩm với các tính năng như đã định sau khi áp dụng “quá trình thiết kế” và 2) Những gì diễn ra khi làm sản phẩm có thể dễ dàng truyền đạt lại cho những người khác.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Phù hợp với cách hiểu về “Quá trình” bên trên, chúng ta có thể quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là một quá trình biến ý tưởng, thông tin, vật liệu,…(đầu vào) thành sản phẩm cuối cùng (đầu ra).

Bằng cách tiếp cận mang tính “quá trình” này với công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, doanh nghiệp có thể đạt được những mục tiêu về sản phẩm đầu ra đạt chất lượng như mong muốn, công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm mang tính kế thừa cao (có thể truyền đạt lại cho người khác) và có thể “nhân rộng” quá trình cho nhiều sản phẩm khác nhau. Ngoài ra, với việc áp dụng quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm chặt chẽ, doanh nghiệp có thể dễ dàng kiểm soát tiến độ dự án, kiểm tra hiện trạng phát triển sản phẩm, điều phối nguồn lực kịp thời và lập kế hoạch làm sản phẩm tốt hơn.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là rất quan trọng với các doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam làm thiết kế và phát triển sản phẩm mà không theo quá trình nhất quán nào. Việc đề ra một quá trình “chuẩn” áp dụng cho doanh nghiệp mình là rất cần thiết và có thể mang lại những lợi ích trước mắt cũng như về lâu dài

Các quan điểm về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh việc quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm diễn ra như thế nào. Các quan điểm này xuất phát từ phong cách của mỗi tác giả, từ đặc thù của những dự án mà họ làm và cả từ sự phát triển của kỹ thuật đương thời.

Foreman (1967) quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm như là một chuỗi các hoạt động, bao gồm: Phát hiện vấn đề – Xác lập Nhu cầu – Thỏa mãn Nhu cầu – Đưa ra Giải pháp. Hình 2.2 mô tả quan điểm này của ông.

Brennan (1990) lại quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm như tập hợp các hoạt động mang tính lặp đi lặp lại, thử và sai liên tục để tìm lời giải cho các vấn đề mà xã hội yêu cầu bằng các giải pháp mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp.

Ulrich quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là quá trình mang tính cấu trúc cao, bao gồm nhiều bước được xác định rõ ràng. Quan niệm này được đưa ra lần đầu năm 1995 và được chỉnh sửa, bổ sung để đưa vào sách “Product Design and Development” viết chung với Eppinger. Theo đó, quá trình thiết kế bao gồm khảo sát khách hàng, thiết lập thông số sơ bộ, tạo, chọn và thử nghiệm mẫu concept, chốt lại thông số cuối cùng của sản phẩm và chuẩn bị sản xuất. Quan điểm này hiện được chấp nhận khá rộng rãi trong lĩnh vực Thiết kế và Phát triển Sản phẩm.

Dù được chấp nhận rộng rãi, quá trình trên của Ulrich vẫn được cho là không phản ánh đúng với thực tế mang tính “lặp” hay “thử và sai” của công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Theo quá trình của Ulrich, công tác thử nghiệm và chỉnh sửa toàn diện nằm ở cuối quá trình, ngay trước khi sản xuất nhưng có những công ty, như IDEO chẳng hạn, rất coi trọng việc tạo mẫu và thử nghiệm ngay từ khi có ý tưởng (từ đầu) và chấp nhận “thử và sai” nhiều lần từ rất sớm. Tuy vậy, xét về tính bao quát và khả năng mô tả một cách có hệ thống thì quá trình do Ulrich đề xuất vẫn là tốt nhất tính cho đến thời điểm này.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm dùng trong sách này

Ở trong sách này, chúng ta sẽ sử dụng một quá trình thiết kế, có tên mã Q – 5) được xây dựng dựa trên quá trình gốc của Ulrich. Mô tả quá trình bằng hình ảnh như dưới đây.

Điểm khác biệt cơ bản của quá trình Q – 5 này so với quá trình của Ulrich nằm ở việc nó bao quát cả vòng đời sản phẩm (đến cả bước triển khai, hỗ trợ khách hàng và thu hồi, tiêu hủy, tái chế) và ở quan niệm khi dùng quá trình này. Khi áp dụng quá trình Q– 5, cần lưu ý, cũng như quá trình của Ulrich bên trên hay bất cứ quá trình nào khác, cần linh hoạt chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện thực tế, với đặc thù sản phẩm, quy mô dự án và nguồn lực của doanh nghiệp. Với những sản phẩm đơn giản thì có thể lược bớt hoặc đơn giản hóa một số khâu. Với những sản phẩm có thể “tạo mẫu” nhanh và rẻ (như phần mềm máy tính chẳng hạn) thì có thể tăng cường số lần “thử nghiệm – chỉnh sửa” lên và có thể đưa việc thử nghiệm vào từ ban đầu, ngay khi có ý tưởng sản phẩm. Quá trình Q – 5 cũng khuyến khích việc áp dụng linh hoạt, chẳng hạn như có thể làm concept hoặc làm mẫu vật lý ngay khi phát triển ý tưởng.

5 hoạt động chính của Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Chúng ta dùng từ “hoạt động” thiết kế thay vì “bước” để có thể linh hoạt áp dụng cho các dự án mà đôi khi chúng ta đảo thứ tự hoạt động một chút hoặc chúng ta phải lặp đi lặp lại nhiều lần.

Các hoạt động thiết kế chính bao gồm: Khảo sát nhu cầu khách hàng, Xác lập thông số sản phẩm, Phát triển Concept, Thiết kế   chi tiết, Thử nghiệm – Chỉnh sửa.

Khảo sát nhu cầu khách hàng

Đây là hoạt động quan trọng của công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Chúng ta bắt đầu thiết kế thực sự bằng việc hiểu khách hàng cần gì ở sản phẩm, họ thích gì, không thích gì, họ có ý tưởng gì bổ sung cho sản phẩm chúng ta định làm hay không. Chương 5 thảo luận về vấn đề này kèm theo hướng dẫn thực hành chi tiết.

Xác lập thông số sản phẩm

Nhóm thiết kế “dịch” những nhu cầu bên trên thành các yêu cầu cụ thể với sản phẩm về tính năng, thông số,…trên cơ sở so sánh, tham khảo thông số của các sản phẩm cạnh tranh tiềm tàng. Chương 6 giới thiệu kỹ thuật sử dụng ma trận quan hệ để thực hiện công việc này.

Phát triển Concept

Từ các thông số sản phẩm và nhu cầu khách hàng, nhóm thiết kế dùng các phương pháp kỹ thuật và công nghệ dựng lên các concept khả dĩ, so sánh và lựa chọn concept tối ưu, phát triển hoàn chỉnh concept đó và đem đi thử phản hồi của khách hàng nhằm mục đích xác định khả năng “bán được” của sản phẩm cũng như doanh số kỳ vọng. Chương 7 và chương 8 giới thiệu chi tiết về hoạt động này.

Thiết kế chi tiết

Nhóm thiết kế phân rã sản phẩm thành các  mô  đun,  thiết  kế riêng từng mô  đun một cách chi tiết. Các vấn đề như Kiến trúc  sản phẩm, Thiết kế Công nghiệp, Tính toán Cơ điện, Vật liệu,…hoặc Thiết kế cho Môi trường, Thiết kế cho Chế tạo,…được xem xét ở hoạt động thiết kế chi tiết này.

MES LAB

To Top