Thư viện - Tài liệu

NPD – Phần 2: Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Trong phần này, chúng ta sẽ cùng xem xét quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm bao gồm những hoạt động gì và các hoạt động đó diễn ra như thế nào, có liên hệ với nhau ra sao trong cùng một bức tranh tổng thể.

Hiểu về thuật ngữ “Quá trình”

“Quá trình” (tiếng Anh: process) là một chuỗi những hoạt động diễn ra theo thời gian nhằm mục đích biến các yếu tố “đầu vào” thành “đầu ra”. Hình 2.1 mô tả khái quát về “quá trình”.

Hình 2.1. Mô tả khái quát về “quá trình”.

Hình 2.1. Mô tả khái quát về “quá trình”.

Đặc điểm nổi bật của quá trình là nó mang tính “tất định”, có nghĩa là với một tập hợp các yếu tố đầu vào cho trước, nếu áp dụng quá trình thì chúng ta chắc chắn sẽ thu được đầu ra như dự kiến. Đây là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt quá trình với “nghệ thuật” hay “kinh nghiệm”. Với “nghệ thuật” và “kinh nghiệm”, có người làm được, có người không và đầu ra thường không cố định cũng như không dự đoán được. Sự “tất định” của quá trình chính là yếu tố mà chúng ta cần để áp dụng cho việc thiết kế và phát triển sản phẩm. Nó giúp công tác thiết kế đạt được 2 lợi ích: 1) Khả năng thu được sản phẩm với các tính năng như đã định sau khi áp dụng “quá trình thiết kế” và 2) Những gì diễn ra khi làm sản phẩm có thể dễ dàng truyền đạt lại cho những người khác.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Phù hợp với cách hiểu về “Quá trình” bên trên, chúng ta có thể quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là một quá trình biến ý tưởng, thông tin, vật liệu,…(đầu vào) thành sản phẩm cuối cùng (đầu ra).

Bằng cách tiếp cận mang tính “quá trình” này với công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, doanh nghiệp có thể đạt được những mục tiêu về sản phẩm đầu ra đạt chất lượng như mong muốn, công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm mang tính kế thừa cao (có thể truyền đạt lại cho người khác) và có thể “nhân rộng” quá trình cho nhiều sản phẩm khác nhau. Ngoài ra, với việc áp dụng quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm chặt chẽ, doanh nghiệp có thể dễ dàng kiểm soát tiến độ dự án, kiểm tra hiện trạng phát triển sản phẩm, điều phối nguồn lực kịp thời và lập kế hoạch làm sản phẩm tốt hơn.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là rất quan trọng với các doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam làm thiết kế và phát triển sản phẩm mà không theo quá trình nhất quán nào. Việc đề ra một quá trình “chuẩn” áp dụng cho doanh nghiệp mình là rất cần thiết và có thể mang lại những lợi ích trước mắt cũng như về lâu dài.

Các quan điểm về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh việc quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm diễn ra như thế nào. Các quan điểm này xuất phát từ phong cách của mỗi tác giả, từ đặc thù của những dự án mà họ làm và cả từ sự phát triển của kỹ thuật đương thời.

Foreman (1967) quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm như là một chuỗi các hoạt động, bao gồm: Phát hiện vấn đề – Xác lập Nhu cầu – Thỏa mãn Nhu cầu – Đưa ra Giải pháp. Hình 2.2 mô tả quan điểm này của ông.

Hình 2.2. Quan điểm của Foreman về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Nguồn hình: Duberly.

Hình 2.2. Quan điểm của Foreman về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Nguồn hình: Duberly.

Brennan (1990) lại quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm như tập hợp các hoạt động mang tính lặp đi lặp lại, thử và sai liên tục để tìm lời giải cho các vấn đề mà xã hội yêu cầu bằng các giải pháp mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp. Hình 2.3 mô tả quan điểm này của Brennan.

Hình 2.3. Quan điểm của Brennan về quá trình Thiết kế. Nguồn: Duberly.

Hình 2.3. Quan điểm của Brennan về quá trình Thiết kế. Nguồn: Duberly.

Ulrich quan niệm quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm là quá trình mang tính cấu trúc cao, bao gồm nhiều bước được xác định rõ ràng. Quan niệm này được đưa ra lần đầu năm 1995 và được chỉnh sửa, bổ sung để đưa vào sách “Product Design and Development” viết chung với Eppinger. Theo đó, quá trình thiết kế bao gồm khảo sát khách hàng, thiết lập thông số sơ bộ, tạo, chọn và thử nghiệm mẫu concept, chốt lại thông số cuối cùng của sản phẩm và chuẩn bị sản xuất. Quan điểm này hiện được chấp nhận khá rộng rãi trong lĩnh vực Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Hình 2.4 mô tả quá trình theo đề xuất của Ulrich.

 

Hình 2.4. Quan điểm của Ulrich về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Nguồn: Duberly.

Hình 2.4. Quan điểm của Ulrich về quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Nguồn: Duberly.

Dù được chấp nhận rộng rãi, quá trình trên của Ulrich vẫn được cho là không phản ánh đúng với thực tế mang tính “lặp” hay “thử và sai” của công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Theo quá trình của Ulrich, công tác thử nghiệm và chỉnh sửa toàn diện nằm ở cuối quá trình, ngay trước khi sản xuất nhưng có những công ty, như IDEO chẳng hạn, rất coi trọng việc tạo mẫu và thử nghiệm ngay từ khi có ý tưởng (từ đầu) và chấp nhận “thử và sai” nhiều lần từ rất sớm. Tuy vậy, xét về tính bao quát và khả năng mô tả một cách có hệ thống thì quá trình do Ulrich đề xuất vẫn là tốt nhất tính cho đến thời điểm này.

Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm dùng trong sách này

Ở trong sách này, chúng ta sẽ sử dụng một quá trình thiết kế, có tên mã Q – 5) được xây dựng dựa trên quá trình gốc của Ulrich. Mô tả quá trình bằng hình ảnh như dưới đây.

 

Hình 2.5. Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm dùng trong sách này

Hình 2.5. Quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm dùng trong sách này

Điểm khác biệt cơ bản của quá trình Q – 5 này so với quá trình của Ulrich nằm ở việc nó bao quát cả vòng đời sản phẩm (đến cả bước triển khai, hỗ trợ khách hàng và thu hồi, tiêu hủy, tái chế) và ở quan niệm khi dùng quá trình này. Khi áp dụng quá trình Q – 5, cần lưu ý, cũng như quá trình của Ulrich bên trên hay bất cứ quá trình nào khác, cần linh hoạt chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện thực tế, với đặc thù sản phẩm, quy mô dự án và nguồn lực của doanh nghiệp. Với những sản phẩm đơn giản thì có thể lược bớt hoặc đơn giản hóa một số khâu. Với những sản phẩm có thể “tạo mẫu” nhanh và rẻ (như phần mềm máy tính chẳng hạn) thì có thể tăng cường số lần “thử nghiệm – chỉnh sửa” lên và có thể đưa việc thử nghiệm vào từ ban đầu, ngay khi có ý tưởng sản phẩm. Quá trình Q – 5 cũng khuyến khích việc áp dụng linh hoạt, chẳng hạn như có thể làm concept hoặc làm mẫu vật lý ngay khi phát triển ý tưởng.

5 hoạt động chính của Thiết kế và Phát triển Sản phẩm

Chúng ta dùng từ “hoạt động” thiết kế thay vì “bước” để có thể linh hoạt áp dụng cho các dự án mà đôi khi chúng ta đảo thứ tự hoạt động một chút hoặc chúng ta phải lặp đi lặp lại nhiều lần.

Các hoạt động thiết kế chính bao gồm: Khảo sát nhu cầu khách hàng, Xác lập thông số sản phẩm, Phát triển Concept, Thiết kế chi tiết, Thử nghiệm – Chỉnh sửa.

Khảo sát nhu cầu khách hàng

Đây là hoạt động quan trọng của công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Chúng ta bắt đầu thiết kế thực sự bằng  việc hiểu khách hàng cần gì ở sản phẩm, họ thích gì, không thích gì, họ có ý tưởng gì bổ sung cho sản phẩm chúng ta định làm hay không. Chương 5 thảo luận về vấn đề này kèm theo hướng dẫn thực hành chi tiết.

Xác lập thông số sản phẩm

Nhóm thiết kế “dịch” những nhu cầu bên trên thành các yêu cầu cụ thể với sản phẩm về tính năng, thông số,…trên cơ sở so sánh, tham khảo thông số của các sản phẩm cạnh tranh tiềm tàng. Chương 6 giới thiệu kỹ thuật sử dụng ma trận quan hệ để thực hiện công việc này.

Phát triển Concept

Từ các thông số sản phẩm và nhu cầu khách hàng, nhóm thiết kế dùng các phương pháp kỹ thuật và công nghệ dựng lên các concept khả dĩ, so sánh và lựa chọn concept tối ưu, phát triển hoàn chỉnh concept đó và đem đi thử phản hồi của khách hàng nhằm mục đích xác định khả năng “bán được” của sản phẩm cũng như doanh số kỳ vọng. Chương 7 và chương 8 giới thiệu chi tiết về hoạt động này.

Thiết kế chi tiết

Nhóm thiết kế phân rã sản phẩm thành các mô đun, thiết kế riêng từng mô đun một cách chi tiết. Các vấn đề như Kiến trúc sản phẩm, Thiết kế Công nghiệp, Tính toán Cơ điện, Vật liệu,…hoặc Thiết kế cho Môi trường, Thiết kế cho Chế tạo,…được xem xét ở hoạt động thiết kế chi tiết này. Chương 9 đến Chương 13 liên quan mật thiết đến hoạt động này.

Thử nghiệm và chỉnh sửa

Sau khi sản phẩm được thiết kế, nhóm thiết kế cần thử nghiệm (alpha và beta) để tìm và vá lỗi, hoàn thiện sản phẩm.

Các hoạt động trước Q – 5

Phần trên là 5 hoạt động chính của công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm. Tuy vậy, trước khi diễn ra các hoạt động chính này, có một số hoạt động có thể được triển khai, bao gồm: Tìm kiếm cơ hội kinh doanh, Phát triển Ý tưởng sản phẩm và Lập kế hoạch sản phẩm (nhằm khả thi hóa sản phẩm). Dưới đây, chúng ta sẽ mô tả sơ lược các hoạt động này để có hình dung cơ bản.

Tìm kiếm cơ hội kinh doanh

Đây là khởi đầu của việc làm sản phẩm. Mỗi sản phẩm cần gắn với một “cơ hội kinh doanh” nhất định. Không có doanh nghiệp nào làm sản phẩm mà không để kinh doanh (trực tiếp hay gián tiếp). Lúc này, doanh nghiệp đối chiếu nhu cầu thị trường và năng lực công nghệ của mình để tìm ra các cơ hội kinh doanh. Chương 3 của cuốn sách bàn về vấn đề này.

Phát triển Ý tưởng sản phẩm

Ý tưởng là phôi thai ban đầu của sản phẩm. Để ra được sản phẩm cần xem xét rất nhiều ý tưởng khác nhau. Với hoạt động này, đội ngũ thiết kế đề xuất ra nhiều ý tưởng và lựa chọn ý tưởng tốt nhất để phát triển thành sản phẩm. Chương 3 mô tả quá trình phát triển ý tưởng, các cách nâng cao số lượng và chất lượng ý tưởng cũng như các phương pháp lựa chọn và đánh giá ý tưởng.

Lập kế hoạch sản phẩm

Hoạt động này rất quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp kiểm tra tính khả thi của ý tưởng, cân đối các phiên bản sản phẩm, thành lập đội ngũ, cân đối nguồn lực, kế hoạch thiết kế,… Rất nhiều công ty bỏ qua việc lập kế hoạch sản phẩm. Với những dự án lớn thì việc phát triển không có kế hoạch sẽ gây rất nhiều khó khăn và tốn kém để điều chỉnh về sau này. Chương 4 của cuốn sách bàn về công tác lập kế hoạch sản phẩm.

Các hoạt động sau Q – 5

Sau 5 hoạt động chính của quá trình Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, còn có nhiều hoạt động khác mà doanh nghiệp cần làm để hoàn chỉnh công tác phát triển sản phẩm. Các hoạt động này bao gồm: Sản xuất thử, Triển khai sản phẩm, Hỗ trợ khách hàng, Thu hồi, tiêu hủy và tái chế.

Sản xuất thử

Sau khi sản phẩm đã được thử nghiệm, tinh chỉnh và hoàn thiện về thiết kế, hoạt động này được đưa vào để thử dây chuyền sản xuất, đào tạo nhân lực vận hành và phát hiện thêm lỗi, nếu có. Sau sản xuất thử sẽ là công bố sản phẩm và sản xuất hàng loạt.

Triển khai sản phẩm

Với công tác triển khai, sản phẩm được đem ra giới thiệu rộng rãi thông qua các lễ công bố, các buổi giới thiệu, các nội dung phát trên các kênh truyền thông và bán đại trà đến khách hàng thông qua các hệ thống phân phối.

Hỗ trợ khách hàng

Phòng kỹ thuật của doanh nghiệp sẽ phải đảm nhận việc hỗ trợ khách hàng khi dùng sản phẩm, giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh, bảo hành và bảo trì,…Khi thiết kế, nhóm thiết kế cần tính đến tình huống sửa chữa, thay thế, bảo trì và phải thiết kế tối ưu cho các công tác này.

Thu hồi, tiêu hủy, tái chế

Khi sản phẩm đã hết hạn sử dụng, công ty có thể có chiến lược thu hồi, đổi sản phẩm mới hoặc thậm chí tái chế sản phẩm nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường và đem lại lợi ích cho người mua. Khi thiết kế, vấn đề này cần được tính đến để công việc thu hồi, tiêu hủy, tái chế được thuận lợi nhất. Thiết kế cho Môi trường cũng nhằm mục đích này.

Nova @ MESLAB

Nội dung bài viết này được trích từ Chương 1 của bộ sách 2 cuốn Thiết kế và phát triển Sản phẩm do MES LAB biên soạn và ấn hành năm 2013. Bộ sách được biên soạn nhằm cung cấp đến độc giả những cái nhìn chung nhất về Thiết kế và Phát triển Sản phẩm, quá trình thiết kế và chi tiết những gì xảy ra trong các bước của quá trình này.

To Top