Thư viện - Tài liệu

Lập kế hoạch sản phẩm P1

Bài viết này được trích từ bộ sách “Thiết kế và phát triển sản phẩm” nhằm chia sẻ kiến thức về Thiết kế, Nghiên cứu & Phát triển tới cộng đồng. Nội dung các bài viết chỉ dừng ở mức cơ bản, các bài chuyên sâu hơn xin xem ở link https://meslab.vn/rdi

Đối với các khách hàng đã mua sách cũ, MES LAB có chương trình hoàn tiền mua sách khi đặt mua tài liệu mới. Chi tiết xin xem tại https://meslab.vn/rdi-toolkit

Lập kế hoạch sản phẩm khi nào?

Sau khi có ý tưởng, doanh nghiệp cần làm công tác lập kế hoạch để chuẩn bị các tiền đề cho các dự án thiết kế và phát triển sản phẩm sau này. Chương 4 sẽ trình bày về vấn đề này.

Tại sao cần lập kế hoạch?

Có nhiều lý do khiến cho việc lập kế hoạch trở nên cần thiết và quan trọng trong các hoạt động của doanh nghiệp. Công tác lập kế hoạch giúp cho doanh nghiệp kiểm tra lần cuối trước khi quyết định thiết kế. Nó giúp doanh nghiệp xem xét một cách định lượng về việc ý tưởng có khả thi hay không, các nguồn lực hiện có trong tay có đủ để làm hay không và cuối cùng, nó giúp doanh nghiệp kết luận có làm hay không.

Lập kế hoạch còn giúp doanh nghiệp thành lập nên danh mục dự án, là tập hợp các dự án có liên quan đến nhau dựa trên cùng một cơ hội kinh doanh hay ý tưởng. Cụ thể: với ý tưởng đã đưa ra, công ty sẽ làm những sản phẩm hay dòng sản phẩm nào, có bao nhiêu phiên bản, mỗi dự án tương ứng với một sản phẩm sẽ tiến hành theo trình tự ra sao, mỗi sản phẩm phát triển theo hướng công nghệ nào, dùng nền tảng gì, tùy biến ra sao, mỗi sản phẩm sẽ có tình hình cạnh tranh như thế nào?

Lập kế hoạch còn cần thiết để doanh nghiệp có phương án bố trí nhân sự, tài chính, vật tư thực hiện các dự án. Nó trả lời câu hỏi:

Những ai sẽ tham gia dự án phát triển sản phẩm, mỗi người có vai trò và nhiệm vụ như thế nào? Các nguồn vốn dùng cho các dự án ra sao? Chúng ta cần máy móc, vật tư gì cho dự án?,…

Cuối cùng, sau bước này, chúng ta thu được bản “Nhiệm vụ” (Mission Statement) là kim chỉ nam cho quá trình thiết kế diễn ra sau đó. Bản Nhiệm vụ này sẽ tóm lược các thông tin cơ bản liên quan đến việc phát triển sản phẩm diễn ra sau đó. Nó chỉ rõ các sản phẩm của chúng ta nhắm đến những phân khúc nào, các công nghệ nào cần đưa vào sản phẩm, dùng nền tảng mới hay dùng phái sinh, các ràng buộc và hạn chế về nguồn lực của chúng ta là gì, công ty đặt ra mục tiêu tài chính như thế nào cho dự án,…

Hồ sơ (bản) kế hoạch sản phẩm

Hồ sơ về kế hoạch sản phẩm hay bản kế hoạch sản phẩm là kết quả của quá trình lên kế hoạch với đầu vào là ý tưởng, đầu ra là quyết định làm những dòng sản phẩm nào, phân bổ nguồn nhân, tài, vật lực ra sao, khách hàng là ai, mục tiêu là gì,… (thể hiện tóm tắt ở bản Nhiệm vụ đã nêu).

Bản kế hoạch sản phẩm này là tiền đề để để sản phẩm ra mắt đúng hạn định, đảm bảo rẳng sản phẩm của doanh nghiệp có  thể bao phủ hết các phân khúc khách hàng khả dĩ, chắc chắn về năng lực của công ty và khả năng “làm được”, phân bổ nguồn lực hợp lý, hạn chế thay đổi liên tục trong quá trình thiết kế và hạn chế việc dừng dự án giữa chừng vì không khảo sát đầy đủ.

Công tác lập kế hoạch sản phẩm trong doanh nghiệp thường được làm bởi đội ngũ kế hoạch, và quyết định bởi những người quản lý cao cấp của công ty. Kế hoạch sản phẩm thường được xem xét sửa đổi nhỏ sau mỗi năm hoặc sau 6 tháng. Bên cạnh đó, kế hoạch sản phẩm cũng cần luôn đươc cập nhật với những thông tin cạnh tranh mới nhất và luôn phải xét đến khả năng và mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời điểm.

PHÂN LOẠI MỘT SỐ DỰ ÁN SẢN PHẨM

Các dự án phát triển sản phẩm

Khi làm kế hoạch, doanh nghiệp thường không chỉ làm một dự    án sản phẩm. Tùy theo  sản phẩm và tiềm  lực cũng như chiến  lược thị trường cũng như các mục tiêu của doanh nghiệp mà họ   có thể chọn theo đuổi nhiều dự án cùng lúc. Các dự  án  này thường liên quan đến nhau và được gọi là danh mục dự án. (Project Portfolio). Ví dụ về danh mục dự án có thể tham khảo là tập hợp các dự án làm máy in cho  các phân khúc khách hàng  khác nhau: Dự án A làm cho phân khúc gia đình, dự án B  làm  cho phân khúc văn phòng, dự án C làm cho phân khúc in ấn chuyên nghiệp (nhà in chẳng hạn),…

Với mỗi dự án, doanh nghiệp có thể chọn một loại hình khác nhau để tối ưu hóa nguồn lực và cân đối danh mục dự án.

Sản phẩm Nền tảng (Platform)

Đây là sản phẩm dựa trên các nền tảng, nền tảng này có khả năng tạo ra một “họ” (family) sản phẩm. Ví dụ: nền tảng Symbian của Nokia, nền tảng iOS,…Nền tảng Symbian trong hình trang bên là cơ sở xây dựng nhiều sản phẩm điện thoại của Nokia như 6260 hay 7710. Nền tảng giúp cho việc phát triển sản phẩm linh hoạt, tiết kiệm và vững chắc hơn.

Sản phẩm Phái sinh (Derivatives)

Sản phẩm Phái sinh là kết quả của việc mở rộng dải sản phẩm đang có với một vài sản phẩm mới được thêm vào nhằm mục đích định vị thị trường tốt hơn. Ví dụ: Apple ra mắt iPad Mini để hướng đến những người có nhu cầu lớn hơn về việc sử dụng iPad trong khi di chuyển. Việc đưa ra các sản phẩm Phái sinh giúp doanh nghiệp “phủ” thêm nhiều phân khúc khách hàng. Chi phí để cho ra sản phẩm Phái sinh cũng thấp hơn làm sản phẩm mới.

Sản phẩm Cải tiến (Improvement)

Sản phẩm Cải tiến là kết quả của việc chỉnh sửa một vài tính năng, sửa lỗi sản phẩm đang có để cho ra sản phẩm tốt và cạnh tranh hơn. Ví dụ: Microsoft thường tung ra các bản vá lỗi SP1, SP2, SP3,..cho các hệ điều hành Windows XP, Windows Vista, Windows 7,…của mình.

Sản phẩm Mới hoàn toàn (Fundamentally New)

Đây là sản phẩm mới hoàn toàn, dựa trên công nghệ mới và sinh ra thị trường mới. Như đã nói ở chương 3 về cơ hội kinh doanh, sản phẩm này mở ra cơ hội mới kèm rủi ro cao. Ví dụ: Máy tính cá nhân đầu tiên của IBM ra mắt năm 1981.

Thêm thông tin về sản phẩm máy tính cá nhân đầu tiên của IBM

“Đây là chiếc máy tính cho tất cả những ai muốn một hệ thống cá nhân tại văn phòng, trường đại học hoặc tại nhà” – C.B. Rogers, phó chủ tịch của IBM giới thiệu về chiếc “máy tính cá nhân” đầu tiên vào năm 1981.

Chỉ 1 năm trước đó, Roger đã được giao nhiệm vụ lãnh đạo một nhóm phát triển để tạo ra một thế hệ máy tính mới. Vào thời điểm này, kế hoạch tạo ra một khái niệm máy tính mới đã gặp phải nhiều hoài nghi về mức độ thực tế.

“Việc IBM giới thiệu PC cũng giống như dạy một con voi nhảy” – một nhà phân tích thị trường vào lúc đó đã nhận xét về khái niệm PC của IBM như vậy.

Để trả lời, PC của IBM đã chiếm đến 84% thị trường máy tính vào năm 1990.

MES LAB