Industry Outlook

Kinh tế quy mô, ngành sản xuất Trung Quốc & câu chuyện “Make in Vietnam”

“Chuyển đổi số”, “Make in Vietnam” là những chiến dịch mà gần đây chúng ta được nghe đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi nhiều người có thể hình dung ra – dù chưa thực sự rõ ràng – vai trò và những việc cần làm đối với “chuyển đối số”, thì đa số vẫn tranh cãi về ý nghĩa thực sự của “Make in Vietnam”.

Một số người nhanh chóng nhận ra slogan “Make in Vietnam” này gần giống với chiến dịch “Make in India” của Ấn Độ được phát động từ năm 2014. “Make in India” – “Hãy làm ở Ấn Độ” kêu gọi biến nước này thành một công xưởng gia công của thế giới, từng bước đối trọng với Trung Quốc. Nếu hiểu theo nghĩa này ở Việt Nam, chúng ta có thể kì vọng trong vài năm tới, Việt Nam sẽ chuyển thành công xưởng mới của thế giới, thúc đẩy sự phát triển của các ngành gia công, cơ khí chế tạo, và bước đầu là công nghiệp phụ trợ. Nói theo cách đơn giản hơn, hãy hình dung Trung Quốc 20 năm trước, khi họ bắt đầu thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp hóa. Đó là hình mẫu chúng ta hướng đến (nếu hiểu “Make in Vietnam” như hiện tại).

Ảnh mô tả slogan “Make in India” (ảnh: Mediaonlinevn.com)

Nhìn lại nền kinh tế Trung Quốc trong 40 năm qua

Nói đến nền kinh tế Trung Quốc, người ta nghĩ ngay đến nền công nghiệp phụ trợ. Sự kết hợp của nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất một loại linh kiện số lượng lớn tạo nên một thị trường hấp dẫn mà các chi tiết/linh kiện hay sản phẩm làm ra với độ đa dạng cao đi kèm với mức giá rẻ.

Nhưng không phải nền công nghiệp phụ trợ của Trung Quốc ngay từ khi mới bắt đầu phát triển đã khởi sắc. Hãy điểm lại các thành tựu kinh tế chính trong hơn 40 năm phát triển của nền công nghiệp Trung Quốc, kể từ cuộc cải cách năm 1978 của Đặng Tiểu Bình.

  • Bước đầu cải cách, Trung Quốc chỉ có thể sản xuất một vài mặt hàng tiêu dùng như: sợi bông, vải, diêm, xà phòng, bột mỳ.
  • Giai đoạn những năm 1990, công nghiệp Trung Quốc vẫn chủ yếu dựa vào các ngành công nghiệp truyền thống: gang thép, dệt may, vật liệu xây dựng, nông nghiệp.
  • Giai đoạn đầu thế kỷ 21 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc trong các ngành công nghệ cao và sản xuất tiên tiến, tích cực thúc đẩy các ngành công nghiệp mới mang tính chiến lược. Thành tựu trong giai đoạn này có thể kể đến như: các thiết bị di động thông minh, các máy công cụ CNC chính xác, máy bay thân hẹp C919 (dòng cùng phân khúc với Airbus A320 và Boeing 737-800) (số liệu theo báo Nhân Dân)
Máy bay C919 do Trung Quốc chế tạo (ảnh: CGTN)

Hiện nay, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, sau Hoa Kỳ. Sở dĩ Trung Quốc có sự phát triển mạnh mẽ vượt bậc như vậy bắt nguồn từ việc Trung Quốc có một thị trường tiêu thụ lớn. Với số dân đứng đầu (khoảng 1,366 tỷ người – năm 2019) và diện tích đứng thứ 3 trên thế giới, Trung Quốc có một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất từ đó có thể tập trung chuyên môn sản xuất một hay một vài chi tiết/linh kiện. Điều này sẽ tạo nên các lợi ích cho doanh nghiệp như: giảm chi phí chế tạo (tiền khuôn, tiền kho bãi, vật tư), giảm chi phí đào tạo nhân công,…từ đó giá thành sản phẩm có thể giảm, tăng mức cạnh tranh.

Từ Economies of Scale (Kinh tế quy mô)

Nền kinh tế Trung Quốc là ví dụ điển hình của thuật ngữ gọi là “Kinh tế quy mô”. Kinh tế quy mô (economies of scale) hay Kinh tế bậc thang chính là chiến lược được hoạch định và sử dụng triệt để trong nhiều ngành kinh doanh; nhất là trong sản xuất. Nội dung chính là nếu sản xuất với quy mô càng lớn thì chi phí và giá thành trên một đơn vị sản phẩm sẽ càng giảm, làm gia tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh.

Nhờ lợi điểm của dân số đông, thị trường trong nước lớn, Trung Quốc dễ dàng xây dựng chiến lược kinh tế quy mô. Những doanh nghiệp lớn, được hỗ trợ từ nhà nước dần trở thành những nhà sản xuất chuyên biệt cho một số loại linh kiện, và sau đó là một số dòng sản phẩm.

Dù có nhiều ưu điểm, kinh tế quy mô cũng bộc lộ một số hạn chế khi tình trạng cung vượt quá nhu cầu thị trường, dẫn đến các chi phí vận chuyển, chi phí sử dụng năng lượng, và chi phí đảm bảo sản phẩm không phát sinh lỗi,…tăng lên nhanh chóng.

Đến Tiêu chuẩn hóa linh kiện – sản phẩm

Ví dụ về chuẩn hóa trong mối ghép bu lông. Ảnh: Voer.edu.vn.

Trên góc nhìn kinh tế, việc tiêu chuẩn hóa giúp chuyên môn hóa các cơ sở sản xuất. Mỗi cơ sở sản xuất sẽ chỉ sản xuất một hoặc một vài chi tiết/linh kiện. Điều này sẽ giảm chi phí các khoản như tiền khuôn, tiền đầu tư máy móc, trang thiết bị để sản xuất chi tiết/linh kiện khác, chi phí đào tạo công nhân…Điều này phù hợp với nền kinh tế quy mô: sản xuất với quy mô càng lớn thì chi phí và giá thành trên một đơn vị sản phẩm càng giảm. Tiêu chuẩn hóa góp phần nâng cao tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và cho phép sự hợp lý hoá trong sản xuất hay hoạt động. Tiêu chuẩn hoá các phương pháp tổ chức cho phép các doanh nghiệp có những phương pháp thực hành tốt nhất nhằm tối ưu hoá nguồn lực và đạt hiệu quả cao hơn.

Ví dụ tấm dẫn hướng của đồ gá hàn khung xe ô tô (ảnh: sưu tầm)

Trên góc nhìn kỹ thuật, do các chi tiết được tiêu chuẩn hóa, người kỹ sư và công nhân có thể giao tiếp với nhau gián tiếp không qua lời nói, ngôn ngữ. Ví dụ trong ngành chế tạo, hình vẽ trên là một chi tiết của đồ gá hàn khung xe ô tô với 4 lỗ định vị (như hình). Giả sử máy gia công lỗ của xưởng bị hỏng và phải thuê gia công ngoài. Kích thước các lỗ ren, dung sai, độ bóng,…được tiêu chuẩn giúp các đơn vị hiểu đúng về yêu cầu kỹ thuật của chi tiết. Dù chi tiết được gia công bất kỳ xưởng nào, người công nhân cũng hiểu được yêu cầu của nó, và hạn chế phế phẩm. Việc giao tiếp với nhau thông qua bản vẽ sẽ giúp tối ưu thời gian làm việc của các kỹ sư và công nhân. Ngoài ra nó thúc đẩy doanh nghiệp tập trung nguồn lực đầu tư máy móc chuyên dụng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

“Make in Vietnam” hay cách làm nào khác?

Việt Nam có thể trở thành công xưởng của Thế giới? Ảnh: petrotimes.vn.

Nếu nhìn nhận “Make in Vietnam” là biến Việt Nam thành công xưởng mới của thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ trước đây, chúng ta khó lòng có được lợi thế như những nước bạn.

Với việc sở hữu thị trường tiêu thụ rộng lớn, phát triển chuỗi cung ứng là khả thi đối với Trung Quốc hay Ấn Độ. Tuy nhiên, chiến lược này không phù hợp lắm tại Việt Nam do nước ta đi sau sự phát triển của thế giới và không có đủ thị trường cũng như nguồn lực đủ mạnh như Trung Quốc.

Giống như Nhật Bản và Trung Quốc, những làn sóng công nghiệp liên tục được dịch chuyển, nó đem lại cho các quốc gia chủ nhà những điểm lợi cho nền kinh tế: làm chủ công nghệ, tiếp thu dây chuyền sản xuất,…Trước tình hình căng thẳng thương mại Mỹ – Trung, nhiều doanh nghiệp có nhà máy tại Trung Quốc đã có những động thái chuyển một phần nhà máy sản xuất sang các khu vực lân cận. Ở Trung Quốc, các hãng lớn như HP, Dell hay Nintendo dự kiến sẽ chuyển một phần hoạt động sản xuất sang Đông Nam Á. Đây là cơ hội lớn đối với Việt Nam.

Một số sản phẩm được Nhật Bản copy thiết kế (ảnh: www.quora.com)

Vậy chúng ta cần làm gì trước tình hình hiện tại? Nhật Bản cải cách từ cuối thế kỷ 19; Trung Quốc vươn mình giai đoạn đầu thế kỷ 21, điểm chung của hai quốc gia này là đều copy lại các sản phẩm của các hãng lớn. Trước làn sóng công nghiệp mạnh mẽ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để có những phát triển vượt bậc. Tuy nhiên chúng ta không nhất thiết phải đi theo “con đường copy” giống như Nhật Bản và Trung Quốc. Các doanh nghiệp Việt hiểu rõ con người, văn hóa Việt, đây có thể coi là điểm mạnh rất lớn so với các doanh nghiệp nước ngoài. Các sản phẩm của doanh nghiệp Việt sản xuất khi được may đo, phù hợp với nhu cầu của xã hội cộng với việc được áp dụng công nghệ tiên tiến được chuyển giao sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tái đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

RDI Team @ MES LAB.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

To Top