Thư viện - Tài liệu

Tạo concept sản phẩm P2

Bài viết này được trích từ bộ sách “Thiết kế và phát triển sản phẩm” nhằm chia sẻ kiến thức về Thiết kế, Nghiên cứu & Phát triển tới cộng đồng. Nội dung các bài viết chỉ dừng ở mức cơ bản, các bài chuyên sâu hơn xin xem ở link https://meslab.vn/rdi

Đối với các khách hàng đã mua sách cũ, MES LAB có chương trình hoàn tiền mua sách khi đặt mua tài liệu mới. Chi tiết xin xem tại https://meslab.vn/rdi-toolkit

Với các giải pháp đưa ra, nhóm thiết kế đã thực hiện xong việc “tìm bên trong”. Lưu ý là các kỹ thuật thúc đẩy năng suất sáng tạo như brainstorming có thể được dùng hiệu quả vào việc tạo ra các giải pháp đa dạng nên hoàn toàn có thể dùng ở bước “tìm bên trong” này. Ngoài ra, ở bước này, nhóm thiết kế cố gắng tạo ra nhiều giải pháp nhất có thể và mỗi thành viên có thể sáng tạo không giới hạn số giải pháp khả dĩ.

Khảo sát hệ thống

Sau khi tìm bên ngoài và tìm bên trong như 2 bước trên đã nêu, nhóm thiết kế thu được hàng chục giải pháp khả dĩ cho các mô đun chức năng khác nhau của sản phẩm. Với những dự án lớn hơn, số lượng giải pháp có thể lên đến hàng trăm.

Để ra được các concept cuối cùng và để “tinh gọn” lại số lượng cũng như nâng cao chất lượng concept, nhóm thiết kế tiến hành công tác “khảo sát hệ thống”. Bản chất của việc làm này là nhóm thiết kế xem xét, đánh giá và chọn những giải pháp phù hợp cho mỗi chức năng (giảm lượng và tăng chất), nghiên cứu kết hợp các giải pháp với nhau. Mỗi sự kết hợp đúng sẽ cho chúng ta một concept. Ở cuối bước tạo mẫu concept, chúng ta cần khoảng 10 – 20 mẫu để đem ra so sánh, lựa chọn và hoàn thiện tiếp theo.

Việc đánh giá các giải pháp có thể thực hiện bằng nhiều cách: đánh giá cảm quan, đánh giá trên cơ sở biểu quyết, đánh giá trên cơ sở so sánh ưu/nhược điểm,…Các kỹ thuật đánh giá này cũng tương tự như các kỹ thuật sàng lọc ý tưởng đã nêu ở chương 3. Ở đây, chúng ta xem xét thêm 2 cách đánh giá: Sử dụng cây công nghệ để loại trừ nhanh các giải pháp không khả thi và Đánh giá trên cơ sở so sánh ưu/nhược điểm. Chúng ta có thể áp dụng cây công nghệ để “sàng lọc thô” các giải pháp, sau đó phân tích so sánh ưu/nhược điểm để loại bỏ tiếp một số công nghệ, nếu cần.

Cây công nghệ là một dạng đồ thị hình nhánh cây, trong đó chia nhỏ các công nghệ thành các lớp công nghệ con và trên cơ sở đó, nhóm thiết kế có thể quyết định xem với concept mình làm, công nghệ nào sẽ khả thi, công nghệ nào cần bỏ. Bằng các này, nhóm có thể nhanh chóng khoanh vùng được các công nghệ có thể sử dụng. Hình 7.10 mô tả cây công nghệ về giải pháp “Lưu trữ và Nhận năng lượng”.

Trong sơ đồ này, việc lưu trữ và nhận năng lượng có thể được thực hiện qua năng lượng hóa học (nhánh trên cùng) hay các năng lượng khác (các nhánh dưới). Năng lượng hóa học lại được chia thành năng lượng từ nhiên liệu thể khí hay năng lượng từ chất nổ (tất nhiên còn một số loại hóa năng khác nữa). Bằng cách xây dựng cây công nghệ này, đối chiếu với mô đun của concept chúng ta đang làm, chúng ta có thể thấy được “nhánh cây” nào dùng được, “nhánh cây” nào không dùng được. Từ đó, chúng ta giảm số lượng công nghệ không khả thi đi và tập trung cho các công nghệ khả thi để nâng cao chất lượng. Các bạn có thể thử đề xuất cây công nghệ cho sản phẩm của mình hoặc của dự án LED ở phần cuối của chương này (thực hành).

Cây công nghệ có thể giúp nhanh chóng giảm số lượng giải pháp, bỏ đi những giải pháp không khả thi. Khi còn lại một số nhỏ giải pháp, nếu cần sàng lọc thêm, chúng ta có thể áp dụng phương pháp so sánh ưu nhược điểm. Phương pháp này tương đối dễ hình dung: Liệt kê ưu điểm, nhược điểm của từng giải pháp rồi chọn lấy những giải pháp có nhiều ưu điểm hơn và ít nhược điểm hơn, so với tình hình sản phẩm cụ thể mà chúng ta đang làm.

Hình ảnh lấy từ cuốn sách

Trong dự án LED, sau khi sàng lọc sơ bộ với cây công nghệ, nhóm thiết kế giữ lại được các giải pháp sau cho mô đun năng lượng:

Sản sinh năng lượng: Mặt trời, Cơ cấu quay cơ học, Bàn đạp, Dây kéo

Lưu trữ năng lượng: Pin, Lò xo, Tụ điện, Trạm lưu trữ chung

Mỗi giải pháp về sản sinh năng lượng kết hợp với một giải pháp về lưu trữ năng lượng, nếu khả thi, sẽ cho chúng ta một giải pháp về mô đun năng lượng.

Tiếp đó, mỗi giải pháp về mô đun năng lượng kết hợp với một giải pháp về mô đun chiếu sáng, nếu khả thi, sẽ cho ta một concept sản phẩm.

Bằng cách kết hợp các giải pháp với nhau một cách đúng đắn, chúng ta sẽ thu được một tập hợp nhiều mẫu concept khả thi để đem ra so sánh với nhau, kết hợp, bổ sung, cải tiến để có được concept tối ưu cuối cùng. Số lượng concept tạo ra ở bước này thường vào khoảng 10 – 20 concept. Với những dự án nhỏ như dự án đèn LED, số lượng concept tạo ra có thể ít hơn.

Sau khi thu được tập hợp concept, chúng ta sẽ chuyển sang “Lựa chọn concept sản phẩm”

Các phương pháp lựa chọn khả dĩ

Trên thực tế, để lựa chọn một trong số những giải pháp, chúng ta có nhiều cách. Như đã nói một phần ở chương 3 khi sàng lọc ý tưởng, chúng ta có những phương pháp sau để ra quyết định lựa chọn:

Quyết định ngoài: Nhóm thiết kế chuyển các mẫu cho khách hàng, đối tác, công ty tư vấn,…để họ chọn giúp. Cách này có ưu điểm là khách quan, công bằng đối với các thành viên trong nhóm thiết kế nhưng có nhược điểm là các thành viên trong nhóm không nắm được việc quyết định ngoài được thực hiện trên cơ sở nào, có đáng tin cậy hay không và chất lượng lựa chọn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn bên ngoài.

Nhà vô địch: Tất cả các mẫu được đưa đến cho lãnh đạo hoặc trưởng nhóm và để người đứng đầu chọn. Phương pháp này có ưu điểm ở những hệ thống phân chia trách nhiệm rõ ràng nhưng có nhược điểm lớn là quá phụ thuộc vào ý kiến một chiều của cá nhân lãnh đạo, không phát huy được tính sáng tạo và đa dạng đội ngũ.

Chọn theo cảm tính: Các thành viên trong nhóm có thể biểu quyết lấy đa số. Việc biểu quyết dựa trên “cảm tính” của người đánh giá: có vẻ tốt, có vẻ ổn,…mà không có cơ sở thực sự vững chắc nào. Đây chính là nhược điểm cơ bản của phương pháp này.

So sánh ưu – nhược: Các thành viên trong nhóm cùng liệt kê các điểm mạnh và yếu của từng concept và bàn bạc, đánh giá, cân nhắc và chọn mẫu tối ưu. Phương pháp này tốt hơn các phương pháp trên nhưng về cơ bản, vẫn là phương pháp định tính. Để kết quả thuyết phục cả nhóm và mang tính khách quan, chúng ta cần phương pháp định lượng.

Phương pháp ma trận quyết định (nhắc lại)

Phương pháp ma trận quyết định đã được giới thiệu ở chương 3 để sàng lọc ý tưởng. Đây là phương pháp có tính định lượng, khách quan và dễ áp dụng nên được sử dụng rất phổ biến trong các quyết định lựa chọn. Kết quả lựa chọn bằng phương pháp ma trận quyết định có tính tập trung, hướng đích cao, thỏa mãn tất cả những người tham gia bầu chọn và dễ dàng lưu trữ cũng như giải thích lý do lựa chọn.

Giống như bản chất của quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm, việc lựa chọn concept sản phẩm cũng rất linh hoạt. Tùy quy mô dự án cũng như đặc thù sản phẩm mà chúng ta áp dụng cách làm phù hợp. Phương pháp ma trận quyết định được dùng nhiều do những ưu điểm của nó đã được liệt kê ở trên. Tuy nhiên, với một số sản phẩm đơn giản hoặc có tính đặc thù thiên về nghệ thuật hoặc cảm tính, có thể các phương pháp khác vẫn sẽ được dùng.

Trên đây, chúng ta đã xem xét phần lựa chọn và tối ưu hóa mẫu concept. Mục đích của việc lựa chọn này không phải chỉ là chọn ra mẫu concept tốt nhất mà bên cạnh đó, chúng ta còn phải xem những mẫu “không tốt” có ưu điểm gì có thể tận dụng để bổ sung vào những chỗ còn thiếu khuyết của mẫu được chọn, từ đó hoàn thiện concept cuối cùng. Việc lựa chọn concept bằng phương pháp ma trận quyết định cho khả năng thành công của sản  phẩm cao hơn vì tính khoa học và khách quan của nó (trong hầu hết các trường hợp). Tuy nhiên, trong những dự án đặc thù, cũng có thể cân nhắc dùng các phương pháp khác. Thang điểm khi đánh giá ở phương pháp ma trận quyết định có thể chọn bất kỳ (1 đến 5 hoặc 1 đến 10,…) tùy thuộc vào nhóm thiết kế.

Sau khi chọn và hoàn thiện được concept cuối cùng, nhóm thiết kế sẽ chuyển sang thử nghiệm concept này với khách hàng tiềm năng và ước lượng quy mô thị trường, sản lượng bán ra dự kiến.

MES LAB

To Top